Kiểm soát biến chứng đái tháo đường: Cần cách tiếp cận đa chuyên khoa để giữ chất lượng sống cho người bệnh

Các chuyên gia cho rằng, biến chứng đái tháo đường không chỉ làm tăng tỷ lệ nhập viện, giảm chất lượng sống mà còn là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và tử vong. Vì vậy, xu hướng điều trị hiện nay không chỉ tập trung kiểm soát đường huyết mà cần quản lý toàn diện, cá thể hóa và phối hợp đa chuyên khoa.

Thông điệp này được nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học “Kiểm soát biến chứng trên bệnh nhân đái tháo đường – Góc nhìn đa chuyên khoa”, với sự tham gia trực tiếp và trực tuyến của gần 1.000 đại biểu từ nhiều bệnh viện trên cả nước. Hội thảo quy tụ các chuyên gia trong lĩnh vực nội tiết, tim mạch và nhãn khoa, tập trung thảo luận các vấn đề thực tiễn như rối loạn lipid máu, nguy cơ tim mạch tồn dư, bệnh võng mạc đái tháo đường và chiến lược phát hiện sớm biến chứng mắt.

Nhiều người bệnh chỉ phát hiện đái tháo đường khi đã có biến chứng

Phát biểu khai mạc hội thảo, TS.BS Đồng Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Khám bệnh và Điều trị Ban ngày Bệnh viện Bạch Mai cho biết, đái tháo đường hiện nay không còn là bệnh rối loạn chuyển hóa đơn thuần mà là bệnh lý ảnh hưởng đa cơ quan.

Theo TS Thành, tỷ lệ mắc đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng. Đáng chú ý, hơn 50% người bệnh đã có biến chứng mạn tính ở tim mạch, mắt, thận hoặc thần kinh ngay tại thời điểm được chẩn đoán.

“Trong thực tế, nhiều người đến khám không phải vì tăng đường huyết mà vì các biến chứng của bệnh. Có trường hợp nhập viện do biến chứng tim mạch, suy thận, nhiễm trùng da hoặc tổn thương răng miệng mới phát hiện mắc đái tháo đường”, TS Thành chia sẻ.

Ông cũng cho rằng mô hình điều trị đơn chuyên khoa không còn phù hợp, bởi mỗi chuyên khoa thường chỉ tập trung vào một cơ quan riêng lẻ, trong khi đái tháo đường là bệnh lý tác động lên toàn cơ thể. Mục tiêu quan trọng nhất hiện nay là phát hiện sớm, kiểm soát toàn diện các yếu tố nguy cơ để giảm biến chứng và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.

Rối loạn lipid máu làm tăng nguy cơ tim mạch

Một trong những nội dung nhận được nhiều quan tâm tại hội thảo là nguy cơ tim mạch ở người bệnh đái tháo đường. Theo TS.BS Nguyễn Thị Mai Ngọc, Viện Tim mạch Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ tim mạch cao gấp 2-4 lần người bình thường.

Đáng lưu ý, dù đã kiểm soát LDL-C bằng statin, nhiều bệnh nhân vẫn tồn tại “nguy cơ tim mạch tồn dư” do tăng triglycerid và rối loạn lipid máu sinh xơ vữa. Ở người bệnh đái tháo đường thường xuất hiện tình trạng triglycerid tăng, HDL-C giảm, non-HDL-C tăng và LDL nhỏ, đậm đặc – yếu tố dễ thúc đẩy xơ vữa mạch máu.

Theo các chuyên gia, ngoài mục tiêu kiểm soát LDL-C, hiện non-HDL-C đang được xem là chỉ số quan trọng phản ánh nguy cơ tim mạch tồn dư ở bệnh nhân đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy việc phối hợp fenofibrate với statin giúp cải thiện rối loạn lipid máu và giảm biến cố tim mạch ở nhóm người bệnh có triglycerid tăng cao.

Bệnh võng mạc đái tháo đường: “Kẻ đánh cắp thị lực” âm thầm

Nếu biến chứng tim mạch đe dọa tính mạng thì bệnh võng mạc đái tháo đường lại là nguyên nhân gây mù lòa đáng lo ngại.

Theo BSCKII Phùng Thị Thúy Hằng, Phó Trưởng khoa Mắt, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh võng mạc đái tháo đường là biến chứng vi mạch thường gặp nhất ở người mắc đái tháo đường. Điều nguy hiểm là ở giai đoạn đầu, người bệnh gần như không có triệu chứng. Khi xuất hiện mờ mắt, ruồi bay hoặc giảm thị lực, bệnh thường đã tiến triển nặng.

Tăng đường huyết kéo dài có thể gây tổn thương hệ mao mạch võng mạc, dẫn tới phù hoàng điểm, thiếu máu võng mạc, hình thành tân mạch và nhiều biến chứng nặng như xuất huyết dịch kính, bong võng mạc hoặc glôcôm tân mạch.

Các chuyên gia cho biết nhiều bệnh nhân chỉ đi khám mắt khi đã nhìn mờ, thậm chí nghĩ đơn giản chỉ cần thay kính. Trong khi đó, điều trị võng mạc đái tháo đường không thể “một lần là xong” mà cần theo dõi lâu dài bằng laser, tiêm nội nhãn hoặc phẫu thuật.

BS Hằng nhấn mạnh: “Kiểm soát toàn thân và điều trị tại mắt phải song hành. Bác sĩ nhãn khoa không thể điều trị hiệu quả nếu người bệnh không kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp, lipid máu và bệnh thận”.

Phát hiện sớm có thể giảm tới 95% nguy cơ mất thị lực

Theo BSCKII Phạm Thị Lưu, Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, cứ 3 người mắc đái tháo đường thì có 1 người bị bệnh võng mạc đái tháo đường. Đáng chú ý, ngay thời điểm chẩn đoán đái tháo đường típ 2 đã có khoảng 13,1% người bệnh xuất hiện tổn thương võng mạc.

Các chuyên gia khuyến cáo người mắc đái tháo đường típ 2 cần khám mắt ngay khi phát hiện bệnh; với đái tháo đường típ 1, việc tầm soát nên được thực hiện sau 5 năm kể từ khi mắc bệnh. Kiểm soát đường huyết, huyết áp, lipid máu kết hợp khám mắt định kỳ là yếu tố then chốt giúp phòng ngừa biến chứng.

Theo BS Phạm Thị Lưu, nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và theo dõi đầy đủ, người bệnh có thể giảm tới 95% nguy cơ mất thị lực do bệnh võng mạc đái tháo đường.

Điều trị đái tháo đường không thể “đơn độc”

Tổng kết hội thảo, TS.BS Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai cho biết chương trình tập trung vào hai nhóm biến chứng lớn là tim mạch và bệnh võng mạc đái tháo đường.

Theo TS Bảy, statin vẫn là nền tảng trong kiểm soát lipid máu, nhưng ở nhiều bệnh nhân, statin đơn thuần chưa đủ để giảm nguy cơ tim mạch tồn dư. Fenofibrate đã được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ tim mạch, đồng thời giúp bảo vệ và làm chậm tiến triển bệnh võng mạc ở giai đoạn sớm.

Ông nhấn mạnh, yếu tố quan trọng nhất trong quản lý biến chứng võng mạc vẫn là sàng lọc sớm, khám định kỳ và kiểm soát tốt đường huyết.

“Đái tháo đường không phải câu chuyện của riêng một chuyên khoa. Chỉ khi có sự phối hợp liên chuyên khoa chặt chẽ, chúng ta mới có thể giúp người bệnh sống khỏe mạnh hơn, kéo dài tuổi thọ và hạn chế tối đa các biến chứng nặng nề”, TS Nguyễn Quang Bảy nhấn mạnh.


086 9587728
[contact-form-7 id="6" title="Đặt hàng"] Đóng
[contact-form-7 id="508" title="Liên hệ"] Đóng