PV: Thưa ông, những thiết bị hiện đại nào vừa được đưa
vào sử dụng tại Khoa y học hạt nhân và ung bướu- Bệnh viện Bạch Mai? Điều
đó có ý nghĩa gì đối với cuộc chiến chống lại bệnh ung thư hiện nay ?
PGS.TS Mai Trọng Khoa: Sự gia tăng của bệnh ung thư đang thực sự là thách thức
cho y học. Có được những thiết bị hiện đại cho những bệnh nhân này là mong
muốn của chúng tôi. Trước nhu cầu của người bệnh những người làm trong ngành
ung bướu đang cố gắng để có những thiết bị máy móc hiện đại để giúp cho việc
chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư có hiệu quả nhất. Đó là máy xạ hình cắt
lớp SPECT, SPECT/CT, PET, PET/CT, dao gamma quay, xạ trị chiếu ngoài bằng
máy gia tốc thẳng… Vừa qua bệnh viện Bạch Mai đã đưa vào hoạt động hệ
thống máy chẩn đoán và điều trị ung thư hiện đại bao gồm: máy xạ hình SPECT một
và hai đầu, máy CT mô phỏng để lập kế hoạch điều trị, hệ thống máy xạ phẫu
gamma quay (Rotating gamma knife) tự động thuộc thế hệ mới nhất của Mỹ, máy xạ
trị gia tốc thẳng. Với những ưu điểm mà các thiết bị này mang lại, hy vọng sẽ
mở ra nhiều cơ hội tốt cho người bệnh ung thư ở nước ta.
PV: Xin ông cho biết hiệu quả chẩn đoán mà các máy xạ hình cắt lớp mang
lại, có sự khác biệt nào so với các thiết bị chẩn đoán hình ảnh khác?
PGS.TS Mai Trọng Khoa: Máy xạ hình cắt lớp (SPECT, PET) là một trong những
thiết bị dùng phát hiện các tổn thương do ung thư và di căn do ung thư. Ngoài ra các loại máy này còn để chẩn đoán các bệnh
về tim mạch, thần kinh, nội tiét, tiêu hoá, sinh dục, cơ xương khớp…Máy xạ hình
SPECT, PET sử dụng các đồng vị phóng xạ đưa vào cơ thể người dưới dạng các dược
chất phóng xạ để đánh dấu đối tượng cần ghi hình. Các tín hiệu thu được từ cơ
thể người bệnh sẽ được đưa vào hệ thống thu nhận dữ liệu để mã hoá và truyền
vào máy tính và là cơ sở để tái tạo hình ảnh tổn thương trong cơ thể. Các dược
chất phóng xạ này sẽ tập trung đặc hiệu vào cơ quan cần nghiên cứu ở mức
độ tế bào, mức độ phân tử và hình ảnh thu được mang đậm hình ảnh chức năng
hơn là hình ảnh cấu trúc giải phẫu. Do vậy các máy xạ hình này cho phép phát
hiện sớm các tổn thương bệnh lý và di căn ung thư, kể cả những tổn thương đó là
nhỏ bé. Chẳng hạn đối với máy PET các dược chất phóng xạ có thể tập trung
đặc hiệu vào tế bào ung thư để phát hiện các tổn thương khi các tế bào ác tính
này mới ở mức độ rối loạn chuyển hoá, không nhất thiết tế bào ác tính đã bị phá
huỷ hoàn toàn mới phát hiện được với các máy chẩn đoán hình ảnh khác, ví dụ các
tế bào ung thư thường có rối loạn chuyển hoá đường (tăng chuyển hoá đường) hơn
so với các tế bào lành xung quanh. Như vậy nếu ta đánh dấu một đồng vị phóng xạ
phát positron vào glucose (đường) thì các tế bào ung thư sẽ tăng hấp thu chuyển
hoá loại đường này và đương nhiên ở đó có nhiều chất phóng xạ tập trung và máy
PET sẽ dễ dàng phát hiện ra chỗ tổn thương này. Các rối loạn chuyển hoá, rối
loạn các cấu trúc di truyền… thường xảy ra rất sớm so với các rối loạn, biến
đổi và phá huỷ cấu trúc giải phẫu. Đó là lý do tại sao máy SPECT, PET có thể
phát hiện sớm các tổn thương hơn các thiết bị chẩn đoán hình ảnh khác như siêu
âm, CT, MRI… Tuy nhiên việc phát hiện sớm các tổn thương ( độ nhạy của máy)
không đồng nghĩa với việc chẩn đoán ngay đó là ung thư hay không, chỉ một số
tổn thương phát hiện được tế bào ung thư nhưng là cơ sở quan trọng để tìm ra
bệnh sớm. Đối với máy SPECT có thể phát hiện sớm các tổn thương (độ nhạy
cao), nhưng không phải trong mọi trường hợp đều có thể khẳng định ngay đó là
tổn thương ác tính hay lành tính. Còn đối với máy PET có thể phát hiện sớm các
tổn thương (độ nhạy cao), nhưng trong nhiều trường hợp có thể giúp thầy thuốc
chẩn đoán được đó là tổn thương ác tính hay không (độ đặc hiệu cao). Trong
ngành ung bướu để chẩn đoán xác định là lành tính hay ác tính thì xét nghiệm
giải phẫu bệnh là tiếng nói quyết định nhất.
Máy xạ hình SPECT, PET đặc
biệt cac giá trị trong việc phát hiện sớm các tổn thương và phát hiện các tổn
thương do di căn ung thư, cũng như đánh giá hiệu quả điều trị của cac phương
pháp điều trị, đánh giá tiên lượng, phân loại giai đoạn … từ đó giúp thầy
thuốc có đợc chẩn đoán đúng và đề ra phương pháp đièu trị đúng. Ví dụ
một bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh là ung thư, ví dụ
đó là ung thu vú, ung thư phổi, hay ung thư tuyến tiền liệt…, nếu chúng ta
dùng máy SPECT hay máy PET và bằng kỹ thuật chụp cắt lớp và kỹ thuật quét toàn
thân (giống như chúng ta quyét ảnh), chúng ta dễ dàng phát hiện các tổn thương
di căn ung thư vào xương, vào não hay vào một cơ quan nào đó…
PV: Hiện nay người ta nói nhiều đến kỹ thuật chụp
SPECT/CT và PET/CT. Xin ông cho đây là kỹ thuật gì và giá trị của nó như thế
nào?
PGS.TS Mai Trọng Khoa: Máy SPECT, máy PET giúp chúng ta
phát hiện các tổn thương ở giai đoạn rất sớm so với các thiết bị chẩn đoán hình
ảnh khác như CT, MRI… nhưng hình ảnh không sắc nét vì đó là hình ảnh chức năng
nhiều hơn là hình ảnh cấu trúc giải phẫu, và khó định khu vị trí tổn thương.
Trong khi đó các hình ảnh thu được trên máy CT, MRI mặc dù các tổn thương
phải đủ lớn mắt chúng ta mới phát hiện được nhưng hình ảnh cấu trúc giải phẫu
lại rất sắc nét rõ ràng. Chính vì vậy người ta đã phối hợp ưu điẻm của hai kỹ
thuật trên vào cùng một máy để tận dụng ưu thế của chúng. Đó là máy
SPECT/CT và PET/CT. Bệnh nhân đồng thời được chụp cả CT hoặc MRI và SPECT hoặc
PET. Hình ảnh chụp được trên SPECT hoặc PET (hình ảnh chức năng, phát hiện rất
sớm các tổn thương) sẽ được máy tính hoà trộn và chồng khít trên hình ảnh của
CT hay cộng hưởng từ-MRI (hình ảnh cấu trúc giải phẫu rõ ràng). Người thầy
thuốc sẽ có đồng thời hình ảnh tổn thương sớm với định khu giải phẫu rõ ràng.
Điều này rất có giá trị trong chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.
PV: Các thiết bị điều trị hiện đại như dao gamma
quay, xạ trị gia tốc thẳng thể hiện giá trị như thế nào trong điều trị, thưa
ông?
PGS.TS Mai Trọng Khoa: Máy xạ phẫu gamma quay (Dao gamma quay) hiện chúng
tôi vừa đưa vào sử dụng là thiết bị xạ trị hiện đại nhất của các thế hệ dao
gamma. Đến nay chỉ có ở Mỹ và một số ít các nước khác có thiết bị điều trị này
cho bệnh nhân ung thư và một số bệnh lý ở não.
Hệ thống gamma quay cũng dựa
theo nguyên lý dao gamma cổ điển nhưng thay cho mũ nguồn và các ống định hướng
(collimator) cố định là hệ thống nguồn xạ quay quanh đầu. Hệ thống xạ phẫu
gamma quay gồm 30 nguồn phóng xạ Co-60. Nó bao gồm giá bán cầu ở mặt ngoài để
định vị và định hướng, nguồn phóng xạ được sắp xếp tạo nên một khuôn hình tròn
không đối xứng. Cả hệ thống đó (cả nguồn và ống định hướng) quay đồng thời
quanh đầu bệnh nhân với các quỹ đạo quay khác nhau và quỹ đạo hình
elip không đối xứng, một điều mà dao gamma cổ điển không làm được vì mũ chụp
đầu có hình tròn cố định. Hệ thống dao gamma quay này được tự động hoá cao, có
thể định vị chính xác khối u và vùng tổn thương với độ lệch cho phép nhỏ hơn
0,1 mm và vùng tổn thương bị nhận liều bức xạ cao nhất nhưng các vùng tổ
chức não lành xung quang ít bị ảnh hưởng nhất. Bệnh nhân không phải chụp mũ và
cố định mũ định hướng nặng nề, tạo cảm giác thoải mái hơn rất nhiều. Nó
giúp thực hiện điều trị được cho cả những trường hợp mà dao gamma cổ điển rất
khó hoặc không thực hiện được.
Hoạt động của dao gamma quay
giúp quá trình điều trị giống như một cuộc mổ nhưng không phải mổ.
Chỉ định dùng dao gamma
quay là để tiêu diệt các tổ chức bệnh có kích thước dưới 5 cm đường kính.
Cụ thể là: Các khối u nguyên phát và di căn vào não, Các dị dạng động,
tĩnh mạch trong sọ kích cỡ vừa và nhỏ , U màng não , U thần kinh đệm , U tuyến
yên, U sọ hầu , Các khối u lành ở nền sọ, U vùng tuyến tùng và tuyến
yên và các rối loạn chức năng thính giác và đau các dây thần kinh mặt. Đặc
biệt dao gamma nhất là hệ thống gamma quay chỉ định tốt cho bệnh nhân già, hoặc
trẻ không muốn phẫu thuật, các u tái phát sau mổ, sau xạ trị hoặc tổn thương
vùng rất nguy hiểm khi phẫu thuật.
Máy gia tốc thẳng( LINAC)
được chế tạo với 2 loại tia phát ra là electron và pho-ton. Hiệu quả mà máy gia
tốc đem lại là tác dụng diệt tế bào bệnh cao, ít tác dụng phụ không mong muốn.
Chùm electron trực tiếp với
7 mức năng lượng khác nhau, bức xạ này tuy không có khả năng xuyên sâu nên
thường chỉ định điều trị bằng chùm tia này cho các tổ thương nông. Độ sâu tối
đa chúng có thể xuyên tới là 3 cm dưới mặt da và có hiệu quả điều trị rất cao.
Nguồn photon với các mức năng lượng khác nhau, có khả năng đâm xuyên sâu nên
cho phép điều trị hiệu quả các tổ thương ung thư nằm rất sâu trong cơ thể
người.
Các bệnh thường được chỉ
định điều trị bằng máy gia tốc là: U não, Ung thư vòm họng, hạ họng thanh
quản, phổi, u trung thất, thực quản, dạ dày, đại trực tràng, tuỵ, thân tử cung,
cổ tử cung, tinh hoàn, tuyến tiền liệt, vú, ung thư hệ tạo huyết như u lymphô
ác tính không Hodgkin, bệnh Hodgkin…
PV: Chuyển giao công nghệ này được Bệnh viện Bạch Mai
thực hiện như thế nào? Người bệnh có dễ dàng được tiếp cận với hệ thống điều
trị hiện đại này không?
PGS.TS Mai Trọng Khoa: Trước khi đưa các thiết bị này vào hoạt động, chúng
tôi đã chuẩn bị một đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên đi đào tạo tại nước ngoài.
Khi đưa vào vận hành ban đầu có sự tư vấn của chuyên gia Mỹ, vì thế khi đưa vào
hoạt động, chúng tôi thực sự có một đội ngũ chuyên viên được đào tạo nghiêm túc
và cẩn thận, người bệnh hoàn toàn yên tâm với hiệu quả điều trị có được. Các
thiết bị điều trị này thuộc nhóm công nghệ cao, đắt tiền, nhưng chúng tôi vẫn
cố gắng để bệnh nhân được tiếp cận điều trị tốt nhất. Hiện nay các máy chẩn
đoán SPECT và máy gia tốc được chi trả bảo hiểm, còn dao gamma quay thì có sự
phối hợp giữa bảo hiểm và bệnh nhân cùng chi trả.
Xin cảm ơn ông!
Lê Hảo( thực
hiện)
Ungthu.net.vn

