Vượt lên khó khăn
Sau một năm, bệnh viện (BV) Bạch
Mai đã triển khai Đề án tại 18 BV ở 11 tỉnh phía Bắc gồm: Yên Bái, Lai Châu,
Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hoà Bình, Hưng Yên, Hà Nam
và Nam Định. Trong đó, Yên Bái là địa phương đầu tiên được BV Bạch Mai chọn làm
nơi triển khai thực hiện Đề án. Đánh giá về kết quả sau một năm thực hiện Đề
án, TS.BSCC Nguyễn Quốc Anh – GĐ BV Bạch Mai – cho biết: “Đã có 126 cán bộ y tế
được luân chuyển về các địa phương, trong đó năm 2009, Yên Bái đã nhận 28 cán
bộ luân phiên. Tại Yên Bái chúng tôi đã chuyển giao nhiều kỹ thuật khám chữa
bệnh cho các bác sỹ. Nhiều bệnh nhân đã được chữa trị kịp thời tại địa phương
và bước đầu mang lại niềm tin cho nhân dân đối với ngành y tế cơ sở”.
Phương pháp triển khai thực hiện
Đề án tại Yên Bái cũng như các địa phương khác, theo lãnh đạo BV Bạch Mai là
“cầm tay chỉ việc”, không làm thay. TS. Đào Ngọc Lan – Giám đốc Sở Y tế tỉnh
Yên Bái – cho biết: “Các bác sỹ tuyến trên được tăng cường về Yên Bái đều là
những bác sỹ giỏi, có tay nghề vững vàng và có khả năng sư phạm. Sau một năm
triển khai, chất lượng chuyên môn của các bác sỹ tại Yên Bái được nâng lên rõ
rệt, các bệnh viện tuyến huyện đã áp dụng được nhiều kỹ thuật mới, kiến thức về
lâm sàng của các bác sỹ ngày càng vững vàng”.
Để đạt được thành tích này, các
CBLP đã phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc và cùng các cán bộ y tế tuyến tỉnh
cùng “vượt khó”, đạt hiệu quả tốt nhất trong hoạt đồng chuyển giao kỹ thuật
mới.
TS. BS Nguyễn Việt Hùng, Trưởng
khoa Sản, BV Bạch Mai cho biết: “Ngày 14/11, chúng tôi đã chuyển giao thành
công kỹ thuật cắt tử cung toàn phần đường bụng cho các bác sĩ (BS) tại BV đa
khoa khu vực Nghĩa Lộ thông qua việc thực hiện 6 ca phẫu thuật phụ khoa. Đây là
một phẫu thuật cần thiết được thực hiện tại các khoa sản thuộc BV đa khoa tuyến
tỉnh, nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh và giảm quá tải cho các
BV tuyến trên. Đồng thời, chúng tôi cũng đã hướng dẫn cho các BS Khoa Sản của
BV kỹ thuật mổ sa sinh dục. Hiện nay, BS trưởng khoa sản của BV đã có thể thực
hiện được kỹ thuật cắt tử cung bằng đường bụng”.
BS Nguyễn Xuân Thực, Khoa Răng –
Hàm – Mặt, người đã từng có 3 tháng chia sẻ những khó khăn cùng các BS BV đa
khoa tỉnh Yên Bái cũng tâm sự: “Nguồn nhân lực ở BV đa khoa Yên Bái rất thiếu,
cả Khoa Răng – Hàm – Mặt chỉ có biên chế 9 người, trong đó có 3 BS nhưng thường
xuyên phải khám ngoại trú cho 500 – 1.000 bệnh nhân. Thế nhưng, đến chiếc ghế
máy khám răng cũng không có, các BS tại đây chỉ thực hiện được phần khám, chữa
bệnh ngoại trú, nhổ răng, việc điều trị nội trú cho những ca nặng đều phải
chuyển lên tuyến trên”. Trước tình thế này, BS Thực phải thay đổi “chiến lược”
chuyển giao các kỹ thuật Răng – Hàm – Mặt như dự định ban đầu, anh tập trung
chuyển giao kỹ thuật làm răng giả, tiểu phẫu và đặc biệt là phẫu thuật kết hợp
xương vùng hàm mặt. Kỹ thuật này rất có ích đối với Yên Bái vì các ca tai nạn
giao thông ở đây tương đối nhiều, thường tập trung tại vùng hàm mặt. Do đó,
việc triển khai phẫu thuật kết hợp xương vùng hàm mặt bằng nẹp vít miniplate
rất hiệu quả, nhiều bệnh nhân đã được
phẫu thuật ngay, không phải chuyển tuyến như trước, rút ngắn được thời gian và
chi phí điều trị.
Thực hiện trên 80% kỹ thuật được chuyển giao
Tại hội nghị sơ kết 1 năm triển
khai Đề án 1816, cả đại diện UBND tỉnh Yên Bái và Sở Y tế đều khẳng định khi Bộ
Y tế quyết định thực hiện đề án 1816, Yên Bái rất phấn khởi vì đây là một cơ
hội tốt hỗ trợ cho y tế tỉnh nhà.
Ngay từ ngày đầu triển khai đề án
1816, các cán bộ y tế Yên Bái luôn ghi
nhớ khẩu hiệu 4 có, 5 không. Đó là không ỷ lại, không giấu dốt, không đùn đẩy,
không chê bai, không thử tài đồng nghiệp và 4 có là có đề xuất công việc, bám
sát nhu cầu, báo cáo trước sau… Bởi vậy, hiệu quả sau 1 năm Yên Bái thực hiện
triển khai đề án 1816 bước đầu rất đáng khích lệ, đánh giá khả năng tự thực hiện
các kỹ thuật sau khi được chuyển giao
đạt trên 80 %.
Nhiệm vụ quan trọng nhất khi
triển khai Đề án 1816 theo TS. BSCC Nguyễn Quốc Anh là chú trọng đào tạo, nâng
cao trình độ cho các cán bộ y tế ở các tỉnh tuyến dưới. Mục tiêu đó khi triển
khai tại Yên Bái đã thu được kết quả tích cực, tỉ lệ chuyển tuyến giảm 30%, trong đó BV đa khoa
tỉnh giảm 10%, BV đa khoa khu vực Nghĩa Lộ giảm 15%. Kết quả này đã hạn chế tình trạng quá tải ở bệnh viện
tuyến trên đồng thời giúp người dân không mất nhiều công sức khi điều trị bệnh.
Anh Giàng A Sang (xã Pú Luông,
huyện Mù Cang Chải) – cho biết: “Việc chữa bệnh đã thuận lợi hơn nhiều rồi. Bây
giờ không phải đi xa như ngày trước nữa, cái bệnh cũng mau chóng được chữa
khỏi”.
Là BV tuyến đầu tiên đón nhận bác sỹ
tuyến trên về hỗ trợ, Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái đã nhận được sự trợ giúp
hiệu quả. Ông Nguyễn Kiến Đào – GĐ BV đa khoa tỉnh – cho biết: “Nhiều ca bệnh
khó chẩn đoán trước đây, nhưng sau thời gian triển khai Đề án, cũng đã dễ dàng
hơn. Nhiều bệnh nhân nặng nay đã có thể được điều trị tại quê hương do trình độ
khám chữa bệnh của các bác sỹ đã được nâng cao”.
Sau một năm triển khai, Đề án
1816 đã đem lại nhiều kết quả tích cực, phù hợp với tình hình thực tiễn, tạm
thời khắc phục những khó khăn về tình trạng thiếu bác sỹ đồng thời đưa được các
dịch vụ y tế chuyên sâu về tận cơ sở. Nói về kế hoạch thực hiện Đề án 1816
trong thời gian tới, TS. BSCC Nguyễn Quốc Anh – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai –
cho biết: “Chúng tôi tiếp tục triển khai Đề án 1816 tại các tỉnh đang triển
khai và trong thời gian tới sẽ mở rộng địa bàn sang năm tỉnh khác là Ninh Bình,
Nghệ An, Sơn La, Tuyên Quang, Quảng Ninh”.
Đỗ Hằng
TTĐT – CĐT

