Các
bệnh lý tim mạch đã và đang là bệnh thường gặp nhất ở các nước phát
triển cũng như đang phát triển, là một trong những nhóm bệnh có tỷ lệ tử
vong rất cao. Hơn thế nữa, bệnh có nhiều biến chứng nặng nề không
những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn là gánh
nặng cho xã hội và gia đình, chi phí cho chăm sóc và điều trị cũng rất
tốn kém.
Trong chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý về tim mạch
Chẩn
đoán chính xác bệnh luôn là những đòi hỏi hàng đầu để giúp các thày
thuốc có được quyết định đúng đắn trong hướng điều trị cho bệnh nhân.
Trong một số trường hợp, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh còn giúp
hướng dẫn phối hợp trong thủ thuật điều trị. Một số tiến bộ trong chẩn
đoán bệnh tim mạch được đề cập đến những năm gần đây là: Siêu âm tim
mạch: đặc biệt là siêu âm – Doppler tim, nhất là siêu âm tim Doppler màu
ngày càng được ứng dụng rộng rãi chúng giúp cho không những chỉ xác
định được hình thái tim và các mạch máu mà còn giúp xác đinh được tốc độ
dòng chảy qua các cấu trúc tim, mạch để xác định được chênh áp qua van,
qua chỗ hẹp mạch, xác định các lỗ thông, sự hở van, mức độ hở van tim
thông qua dòng phụt ngược trên phổ Doppler hoặc dòng màu… Bên cạnh đó
còn giúp tính ước được áp lực động mạch phổi…
Siêu âm tim qua thực quản,
là một kỹ thuật cho phép nhìn rõ cấu trúc tim hơn, giúp xác định chính
xác hơn một số chi tiết quan trọng mà siêu âm qua thành ngực có thể bỏ
sót như huyết khối trong buồng tim, tách thành động mạch chủ, các lỗ
thông…
Siêu âm tim gắng sức và siêu âm tim với thuốc
tăng co bóp cơ tim giúp xác định vùng cơ tim thiếu máu trong bệnh ĐMV
hoặc xác định khả năng sống của cơ tim. Siêu âm tim trong lòng mạch
(IVUS): qua đường ống thông đưa đầu dò siêu âm rất nhỏ vào trong lòng
mạch (thường là động mạch vành) để giúp xác định rõ cấu trúc mảng xơ vữa
thành mạch, đường kính lòng mạch và đoạn mạch lành để giúp can thiệp
mạch vành hiệu quả hơn.
Phương pháp chụp cắt lớp nhiều mặt cắt (CT multiple slides)
thế
hệ mới có thể giúp đánh giá được hệ thống động mạch vành đoạn gần, đặc
biệt là mức độ vôi hóa động mạch vành mà không phải can thiệp xâm nhập.
Phương pháp chụp cộng hưởng từ (MRI) trong tim mạch đã thực sự là phương
pháp chẩn đoán hình ảnh động rất có ý nghĩa trong tim mạch, cho phép
đánh giá được chính xác các cấu trúc tim, đặc biệt là trong các bệnh tim
bẩm sinh.
Phương pháp chụp mạch cộng hưởng từ (MRA) là
phương pháp không xâm lấn có thể cho phép xác định khá chính xác hình
thái các mạch máu, dị dạng mạch, phình tách mạch, thậm chí cả hệ thống
động mạch vành.

Rối loạn nhịp tim cần chẩn đoán và điều trị kịp thời
Vai trò của phóng xạ đồ tưới máu cơ tim (SPECT)
cũng rất quan trọng trong tim mạch. Biện pháp này giúp chẩn đoán vùng
thiếu máu cơ tim trong bệnh lý ĐMV và đặc biệt giúp đánh giá khả năng
phục hồi (khả năng sống còn) của cơ tim để giúp quyết định có điều trị
tái tưới máu ĐMV hay không. 2. Một số tiến bộ trong điều trị các bệnh
tim mạch. Nhiều tiến bộ trong điều trị các bệnh tim mạch trong những năm
gần đây đã làm thay đổi hẳn quan điểm và tiên lượng trong điều trị bệnh
tim mạch. Trong số đó phải kể đến vai trò nổi bật của ngành Tim mạch
học can thiệp, đã giải quyết được khá nhiều bệnh lý tim mạch mà trước
đây hoặc phải mổ hoặc bó tay.
Trong điều trị bệnh động mạch vành.
Có
lẽ đây là bệnh lý khá phổ biến nên cũng có nhiều tiến bộ nhất. Sự hiểu
biết và ứng dụng các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu thế hệ mới đã giúp
cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh như đã đề cập ở trên. Vai trò của
clopidogrel trong hội chứng mạch vành cấp đã được khẳng định qua các
nghiên cứu CURE và PCI-CURE. Khi cho thuốc này đã làm giảm nguy cơ tương
đối tới 30% so với nhóm không được cho. Các thuốc ức chế thụ thể GP
IIb/IIIa là những thuốc ức chế ngưng kết tiểu cầu ở giai đoạn cuối đã tỏ
ra có lợi ích đặc biệt ở những bệnh nhân có hội chứng Chương trình mục
tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp mạch vành cấp, có nguy cơ cao và
được can thiệp. Can thiệp động mạch vành qua da (nong và/hoặc đặt
Stent) ĐMV có thể không còn là vấn đề mới mẻ nữa vì chúng đã được thực
hiện một cách thường quy và góp phần cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh
cũng như phát triển một ngành mới trong tim mạch. Kể từ khi Gruntzig
(1978) lần đầu tiên nong ĐMV qua đường ống thông luồn từ ĐM đùi, cho đến
nay, phương pháp này đã trở thành một trong những phương pháp hàng đầu
trong điều trị bệnh ĐMV. Tuy nhiên, cùng với thời gian đã có nhiều tiến
bộ, cải tiến đáng kể trong việc can thiệp động mạch vành với những thiết
bị ngày một tinh vi, an toàn và hiệu quả hơn. Việc nong và đặt ĐMV
truyền thống đã có những hạn chế nhất định như tỷ lệ tái hẹp động mạch
vành vẫn còn cao (tới 20 – 30%) sau can thiệp. Trong cơ chế gây tái hẹp
thì quan trọng nhất vẫn là hiện tượng tăng sinh của lớp áo trong mạch
máu (neointia hyperplasia). Để khắc phục hiện tượng này, người ta đã
phát minh ra phương pháp phủ thuốc chống phân bào lên Stent để đặt vào
trong ĐMV và đã làm giảm đáng kể tái hẹp. Hiện nay Stent bọc thuốc
Sirolimus (Stent Cypher) đang được ứng dụng rộng rãi để chống tái hẹp
ĐMV (một thách thức đáng kể khi can thiệp ĐMV).
Một số thách thức
khác trong can thiệp ĐMV như huyết khối, tổn thương cứng, vôi hóa, tổn
thương lỗ vào ĐMV đã có những tiến bộ kỹ thuật giải quyết: Việc dùng
thiết bị làm loãng và hút cục máu đông trong lòng ĐMV (X sizer) giúp làm
thông thoáng lòng ĐMV, đặc biệt trong trường hợp NMCT cấp có nhiều
huyết khối vì các biện pháp nong hoặc đặt Stent Chương trình mục tiêu
Quốc gia phòng chống tăng huyết áp thông thường tỏ ra bế tắc. Đối với
những tổn thương ĐMV cứng và vôi hóa có thể dùng thiết bị khoan khá mảng
xơ vữa (rotablator) để làm rộng lòng mạch. Thiết bị này được quay với
vận tốc rất lớn (200 000 vòng/phút) làm mảng xơ vữa bị bào thành những
vi mảnh trôi theo dòng máu. Thiết bị cắt gọt mảng xơ vữa (DCA) và gom
lại để đưa ra ngoài, được dùng cho những trường hợp hẹp ở lỗ vào ĐMV
hoặc mảng vữa xơ quá lớn cần lấy ra. Riêng trong lĩnh vực làm mổ cầu nối
ĐMV cũng có rất nhiều tiến bộ. Việc phát minh cách mổ với tim vẫn đập
làm giảm thời gian hậu phẫu, tránh biến chứng liên quan việc chạy máy
tim phổi nhân tạo và kẹp động mạch chủ. Bên cạnh đó, mổ với kỹ thuật xâm
lấn tối thiểu (mini invasive) và mổ bằng robot là những hướng mới có
nhiều hứa hẹn trong phẫu thuật ĐMV.
Trong điều trị các bệnh van tim
Những
tiến bộ nổi bật nhất phải kể đến trong bệnh lý van tim là những kỹ
thuật can thiệp qua da. Nong van hai lá bằng bóng Inoue qua da đã trở
thành phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân bị hẹp
van hai lá. Bằng quả bóng đặc biệt luồn từ tĩnh mạch đùi phải lên nhĩ
phải xuyên qua vách liên nhĩ để sang nhĩ trái và thất trái đã giúp nong
tách rộng hai mép van bị hẹp ở bệnh nhân HHL khít do thấp. Tại Việt nam,
kỹ thuật này đã được áp dụng khá rộng rãi với trên gần 3000 bệnh nhân
với kết quả thu được rất tốt. Nhóm của GS. Cribier cũng đã thực hiện
được trên một số bệnh nhân ban đầu và cho kết quả rất đáng khích lệ. Từ
ĐM hoặc TM đùi, van nhân tạo (dạng Stent nằm trên quả bóng) được đưa lên
qua đường ống thông đến vị trí yêu cầu (van ĐM phổi hoặc chủ), sau đó
bóng có gắn van được bơm căng lên để van tim cố định tại chỗ và cho xẹp
bóng để lại van tại vị trí cần đặt. Đây là một hướng điều trị rất khả
quan trong tương lai cho bệnh nhân bị bệnh van tim mà không cần phải mổ.
Sửa van hai lá qua đường ống thông cũng đang được thử nghiệm. Qua ống
thông đưa thiết bị lên để kẹp hai mép van trong trường hợp hở van hai lá
nhiều. Cũng có tác giả qua đường ống thông đưa một thiết bị lên để luồn
một vòng van nhân tạo quanh xoang vành làm co nhỏ vòng van hai lá lại
để cho đỡ hở van hai lá.
Tiến bộ trong điều trị một số bệnh tim bẩm sinh.
Bệnh
tim bẩm sinh vẫn rất thường gặp trong đời sống xã hội, tỷ lệ mắc trung
bình bệnh tim bẩm sinh các thể (theo thống kê ở nước ngoài) khoảng 0,4%
số trẻ sinh ra. Chúng ta chưa có những thống kê chính thức, nhưng ước
tính có thể còn lớn hơn số trên (do điều kiện kinh tế, xã hội, chiến
tranh và các chất độc ô nhiễm…). Bệnh thường để lại một gánh nặng cả
về thể chất, tinh thần cho không những bệnh nhân, gia đình và cả xã hội.
Tuy vậy, với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, rất nhiều
bệnh tim bẩm sinh đã được phát hiện kịp thời và được chữa trị một
Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp cách rất hiệu
quả, trong nhiều trường hợp có thể khỏi hoàn toàn. Đóng thông liên nhĩ
bằng dụng cụ Amplatzer qua đường ống thông: Đây là một loại thiết bị đặc
biệt bằng lưới kim loại Nitinol nhớ hình, có hình dáng hai dù áp vào
nhau và nối với nhau bởi một eo. Khi đưa vào thì dụng cụ đã được thu vào
trong ống thông. Từ tĩnh mạch đùi phải đưa ống thông lên qua lỗ TLN để
sang nhĩ trái. Qua đó đẩy dù lên và mở cánh phía nhĩ trái trước sau đó
kéo lại mắc vách liên nhĩ và mở tiếp cánh còn lại bên nhĩ phải để ép lại
và đã đóng kín vách liên nhĩ. Sau đó kiểm tra và tháo rời dù ra bằng
cách tháo vít. Phương pháp này giúp tránh được cuộc mổ trên tim hở mà
vẫn cho kết quả tương tự như nhiều nghiên cứu trên thế giới và ngay tại
Viện Tim mạch Việt nam đã chứng minh. Đóng ống động mạch trong bệnh còn
ống động mạch bằng dụng cụ Amplatzer hoặc bằng coil cũng gần giống
nguyên tắc trên nhưng dụng cụ có hình dáng khác để phù hợp với ống động
mạch. Đóng lỗ thông liên thất phần màng bằng dụng cụ Amplatzer có phức
tạp hơn và đang trong giai đoạn thử nghiệm. Đây cũng là phương pháp hứa
hẹn nhiều triển vọng và mang lại lợi ích đáng kể cho người bệnh. Tại
Viện Tim mạch chúng tôi cũng đã thành công bước đầu trong việc đóng TLT
cho một số bệnh nhân. Một số bệnh lý bẩm sinh khác cũng có thể được điều
trị qua đường ống thông khá hiệu quả như: nong van động mạch phổi bị
hẹp qua da, nong van động mạch chủ bị hẹp qua da, nong hẹp eo động mạch
chủ, đóng một Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp
số lỗ dò bất thường của động mạch vành hoặc các động mạch khác cúng theo
đường ống thông mà không cần phải mổ… Đối với bệnh cơ tim phì đại tắc
nghẽn, trước đây thường phải mổ khoét vách liên thất với nhiều biến
chứng phức tạp. Nay có thể làm mỏng vách liên thất bằng cách tiêm cồn
vào nhánh động mạch vành nuôi vách liên thất một cách chọn lọc qua đường
ống thông. Phương pháp này rất ít xâm lấn hơn mổ và cho kết quả rất khả
quan.
Tiến bộ trong điều trị rối loạn nhịp
Trong
thực hành bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim có lẽ là vấn đề phức tạp
nhất. Ngày nay, những tiến bộ không ngừng của KHKT đã cho phép điều trị
được triệt để một số loạn nhịp tim như: tim nhanh trên thất, có cầu nối
bất thường (WPW); tim nhanh thất… và đặc biệt hiện nay đang chú trọng
điều trị rung nhĩ. Thăm dò điện sinh lý học trong buồng tim qua đường
ống thông cho phép xác định bản chất của rối loạn nhịp cũng như có thể
định vị được những cầu nối bất thường và những ổ ngoại vị để từ đó quyết
định việc điều trị triệt để bệnh. Phương pháp điều trị loạn nhịp bằng
sóng Radio qua đường ống thông (catheter ablation) là phương pháp hiện
đại, dùng năng lượng sóng có tần số radio để triệt phá đường dẫn truyền
phụ gây loạn nhịp tim hoặc ổ ngoại vị. Phương pháp này hiện nay đang
được áp dụng rộng rãi để điều trị một số loạn nhịp phức tạp và tồn tại
một cách dai dẳng. Cấy máy phá rung tự động trong buồng tim (ICD) là
biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa được đột tử ở những đối tượng có nguy cơ
rung thất hoặc nhịp nhanh thất ác tính.
Dùng tế bào gốc trong điều trị một số bênh tim mạch
Đây
thực sự là vấn đề thời sự và nóng bỏng hiện nay được quan tâm rất
nhiều. Cơ sơ lý luận của phương pháp này là dùng tế bào nguồn để biệt
hóa có thể sẽ tạo ra những thành phần cơ quan chức năng mới tương ứng để
bổ xung hoặc thay thế cho những cơ quan đã hỏng mà không khắc phục
được, đặc biệt là trong lĩnh vực bệnh động mạch vành. Chương trình mục
tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp. Mặc dù đã có nhiều biện pháp
trong điều trị bệnh ĐMV nhưng có tới 10% bệnh nhân là không thể chữa
được. Do vậy, nếu ta dùng tế bào gốc đưa vào ĐMV hoặc cơ tim để tạo nên
những mạch máu tân tạo mới có thể sẽ giải quyết được tận gốc về cơ chế
bệnh tật. Đã có nhiều nghiên cứu dùng tế bào gốc trong điều trị bệnh ĐMV
và cho kết quả ban đầu rất đáng khích lệ. Đây thực sự là một hướng đi
quan trọng trong tương lai của ngành Tim mạch.
Nguồn suckhoedoisong.vn

