Từ chuẩn hóa đến cá thể hóa: Khi mỗi cuộc phẫu thuật được thiết kế riêng

Điểm nhấn của chương trình là các phiên báo cáo chuyên sâu kết hợp với hoạt động mổ trình diễn phẫu thuật dạ dày, giúp những kiến thức từ hội trường được kiểm chứng trực tiếp trong thực hành.

Chuẩn hóa không đồng nghĩa với “một phương pháp cho tất cả”

Phát biểu khai mạc hội thảo, đại diện chủ toạ PGS.TS. Lâm Việt Trung – Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn, Bệnh viện Chợ Rẫy nhấn mạnh, những năm gần đây, sự phát triển của phẫu thuật nội soi, phẫu thuật ít xâm lấn, các phương tiện năng lượng hiện đại và chương trình hồi phục sớm sau mổ đã góp phần nâng cao độ chính xác, giảm tai biến, biến chứng và cải thiện chất lượng điều trị.

Tuy nhiên, tiến bộ kỹ thuật chỉ thực sự mang lại giá trị khi toàn bộ quá trình chăm sóc người bệnh được chuẩn hóa, từ đánh giá trước mổ, lựa chọn chỉ định, kỹ thuật phẫu thuật, chăm sóc chu phẫu đến theo dõi sau điều trị.

“Chuẩn hóa là nền tảng để bảo đảm chất lượng chuyên môn, tính nhất quán trong thực hành và an toàn người bệnh. Nhưng mỗi người bệnh có đặc điểm riêng về giải phẫu, giai đoạn bệnh, thể trạng, bệnh lý phối hợp và nhu cầu bảo tồn chức năng. Vì vậy, chuẩn hóa và cá thể hóa không đối lập mà bổ trợ cho nhau”, lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai khẳng định.

Theo đó, hội thảo tập trung vào ba vấn đề đang được quan tâm trong ngoại khoa tiêu hóa: nạo hạch D3 trong ung thư đại tràng; phẫu thuật triệt căn ung thư dạ dày từ D2 chuẩn hóa đến phẫu thuật theo giải phẫu phôi thai; và cá thể hóa điều trị thoát vị thành bụng trong kỷ nguyên phẫu thuật ít xâm lấn.

Nạo hạch D3: Không phải cứ mở rộng là tốt hơn

Trong báo cáo về chiến lược phẫu thuật ung thư đại tràng, PGS.TS.BS. Lâm Việt Trung, Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn Bệnh viện Chợ Rẫy, đặt ra câu hỏi: nạo hạch D3 nên được coi là một tiêu chuẩn chung hay cần được chỉ định theo từng trường hợp?

Ung thư đại trực tràng hiện là một trong những ung thư đường tiêu hóa thường gặp tại Việt Nam. Trong khi nước ta chưa có chương trình tầm soát ung thư đại trực tràng trên phạm vi quốc gia, không ít người bệnh vẫn đến viện ở giai đoạn muộn, khiến việc lựa chọn chiến lược điều trị trở nên phức tạp hơn.

Theo PGS. Lâm Việt Trung, nạo hạch D3 là kỹ thuật lấy bỏ hệ thống hạch đến tận gốc các mạch máu chính nuôi đoạn đại tràng có khối u. Kỹ thuật có thể giúp nâng cao tính triệt căn ở những trường hợp phù hợp, nhưng không nên được áp dụng thường quy cho mọi người bệnh.

“Điều quan trọng là phải “chuẩn hóa trước khi mở rộng tính triệt căn”. Chỉ định nạo hạch cần dựa trên đặc điểm người bệnh, đặc điểm khối u, giai đoạn bệnh và đánh giá trước cũng như trong mổ”, PGS. Trung chia sẻ.

Ông cũng cho rằng Việt Nam cần thêm các nghiên cứu dựa trên dữ liệu thực tế trong nước để xác định rõ nhóm người bệnh có thể hưởng lợi từ nạo hạch D3, thay vì áp dụng máy móc một kỹ thuật cho tất cả trường hợp.

Phẫu thuật ung thư dạ dày: Không chỉ “lấy hạch nào”, mà còn “lấy bằng cách nào”

Ở lĩnh vực ung thư dạ dày, TS.BS. Nguyễn Ngọc Hùng, Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Tiêu hóa, Bệnh viện Bạch Mai, phân tích hành trình phát triển từ nạo hạch D2 chuẩn hóa đến phẫu thuật dựa trên giải phẫu phôi thai và giải phẫu màng.

Trong hơn ba thập kỷ, nạo hạch D2 đã trở thành nền tảng của phẫu thuật triệt căn ung thư dạ dày. Nhờ có hệ thống quy định rõ phạm vi cắt dạ dày và các nhóm hạch cần lấy bỏ, kỹ thuật phẫu thuật có thể được mô tả, đào tạo, chuyển giao và đánh giá chất lượng giữa các trung tâm.

Tuy nhiên, giải phẫu mạch máu và đường dẫn lưu bạch huyết không hoàn toàn giống nhau ở mọi người bệnh. Nếu chỉ dựa vào sơ đồ các nhóm hạch mà không nhận diện đầy đủ cấu trúc thực tế, phẫu thuật viên có thể gặp nguy cơ bỏ sót mô bạch huyết hoặc gây tổn thương không cần thiết.

“D2 vẫn là nền tảng của phẫu thuật triệt căn ung thư dạ dày. Phẫu thuật theo giải phẫu phôi thai không nhằm thay thế D2, mà có thể là bước phát triển tiếp theo, giúp chúng ta thực hiện D2 một cách hệ thống, chính xác và phù hợp hơn với từng người bệnh”, TS. Nguyễn Ngọc Hùng nhấn mạnh.

Theo ông, thay vì bóc tách rời rạc từng nhóm hạch quanh mạch máu, phẫu thuật viên có thể đi theo các mặt phẳng tự nhiên hình thành từ thời kỳ phôi thai, lấy nguyên khối mô mỡ, mạch máu và hệ bạch huyết trong một “gói mạc” hoàn chỉnh. Cách tiếp cận này vừa hướng tới tính triệt căn, vừa giúp hạn chế chảy máu, tổn thương tụy và các mạch máu lớn.

Những nguyên lý trên được minh họa trực quan trong chương trình mổ trình diễn phẫu thuật dạ dày. Qua hình ảnh truyền trực tiếp từ phòng mổ, các đại biểu có thể theo dõi cách nhận diện mặt phẳng giải phẫu, bộc lộ cuống mạch và thực hiện nạo hạch theo một quy trình có thể chuẩn hóa, tái lập.

Điều trị thoát vị: Cùng một bệnh nhưng không cùng một cuộc mổ

Với các bệnh lý thoát vị thành bụng, TS.BS. Nguyễn Võ Vĩnh Lộc, Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy, chỉ ra sự khác biệt rất lớn giữa một thoát vị rốn nhỏ ở người trẻ khỏe mạnh và một thoát vị vết mổ phức tạp ở người bệnh béo phì, đái tháo đường hoặc có tình trạng “mất quyền cư trú ổ bụng”.

Do đó, lựa chọn mổ mở hay nội soi, vị trí đặt lưới, loại vật liệu, khả năng khép kín thành bụng và thời điểm phẫu thuật phải được cân nhắc trên từng người bệnh cụ thể.

“Cá thể hóa không có nghĩa là rời xa bằng chứng khoa học. Đó là sự kết hợp giữa bằng chứng tốt nhất, kinh nghiệm và khả năng của phẫu thuật viên với đặc điểm bệnh lý, thể trạng, hoàn cảnh và nhu cầu của từng người bệnh”, TS. Vĩnh Lộc chia sẻ.

Hội thảo khép lại nhưng mở ra nhiều cuộc thảo luận chuyên môn. Từ ung thư đại tràng, ung thư dạ dày đến thoát vị thành bụng, các chuyên gia cùng thống nhất rằng đích đến của ngoại khoa hiện đại không phải là thực hiện cuộc mổ lớn nhất hay sử dụng kỹ thuật mới nhất, mà là lựa chọn đúng cuộc mổ cho đúng người bệnh.

Khi chuẩn hóa tạo nên “đường ray” bảo đảm chất lượng và an toàn, cá thể hóa chính là cách người thầy thuốc lựa chọn hành trình phù hợp nhất, để người bệnh không chỉ được điều trị bệnh mà còn được bảo tồn chức năng, rút ngắn thời gian hồi phục và nâng cao chất lượng sống.


086 9587728
[contact-form-7 id="6" title="Đặt hàng"] Đóng
[contact-form-7 id="508" title="Liên hệ"] Đóng